Quy định mới nhất về Công ty Hợp danh

Bạn là cá nhân muốn thành lập doanh nghiệp để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh và muốn liên kết với một hay nhiều cá nhân khác để tiến nhưng bạn muốn chịu trách nhiệm vô hạn đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài chính của nó. Trên cơ sở các quy định của pháp luật hiện hành Công ty Luật Toàn Long xin tư vấn cho quý khách những nội dung liên quan tới quy định về Công ty Hợp danh – loại hình doanh nghiệp phù hợp với yêu cầu của bạn.

1. Cơ sở pháp lý

– Luật Doanh nghiệp 2014
– Nghị định 96/2015/NĐ-CP Hướng dẫn Luật doanh nghiệp 2014
– Nghị định 78/2015/NĐ-CP Về đăng ký doanh nghiệp
– Thông tư 20/2015/TT-BKHĐT Hướng dẫn đăng ký doanh nghiệp

2. Quy định chung của pháp luật về Công ty hợp danh

 – Công ty hợp danh là doanh nghiệp, trong đó:
+ Phải có ít nhất 02 thành viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung (sau đây gọi là thành viên hợp danh). Ngoài các thành viên hợp danh, công ty có thể có thêm thành viên góp vốn;
+ Thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty;
+ Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty.
– Công ty hợp danh có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.
– Công ty hợp danh không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào.
cong-ty-hop-danh

3. Đánh giá ưu nhược điểm của Công ty Hợp danh

3.1. Ưu điểm:
– Công ty hợp danh hay còn gọi là mô hình công ty đối nhân, mà tại đó mọi người thực hiện hoạt động kinh doanh dựa trên chính uy tín và toàn bộ tài sản của tất cả các thành viên hợp danh. Chính điều này đã tạo được sự tin cậy rất lớn cho các đối tác kinh doanh.
–  Công ty hợp danh lại có rất nhiều người đại diện, đó là tất cả các thành viên hợp danh trong công ty. Do vậy, trong hoạt động sản xuất kinh doanh tất cả các thành viên hợp danh được quyền Nhân danh công ty.
– Các thành viên hợp danh thường là những người quen biết nhau từ lâu và tin tưởng nhau tuyệt đối, chính điều này đã giúp cho bộ máy quản lý doanh nghiệp đơn giản.
– Do được thành lập nên bởi những người có uy tín trong xã hội, nên trong kinh doanh đó là những lợi thế cực kỳ lớn và một số người rất muốn tham gia góp vốn vào kinh doanh cùng, nhưng họ lại rất sợ tính chịu trách nhiệm vô hạn định của mô hình công ty này. Pháp luật đã đáp ứng được các yêu cầu chính đáng của họ, khi cho phép công ty hợp danh có thành viên góp vốn, và họ chỉ chịu trách nhiệm trong phần vốn đã góp vào công ty. Việc huy động thêm thành viên góp vốn, đã tháo gỡ được phần nào khó khăn tài chính mà công ty hợp danh gặp phải.
3.2. Nhược điểm:
– Thành viên hợp danh của công ty không được là Chủ doanh nghiệp tư nhân; Không được là thành viên hợp danh của công ty khác, nếu không được sự đồng ý của tất cả các thành viên hợp danh trong công ty.
– Việc chuyển nhượng phần vốn góp của thành viên hợp danh diễn ra rất khó khăn. Thành viên hợp danh chỉ được chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp của mình nếu được tất cả các thành viên hợp danh khác đồng ý.
– Nếu thành viên hợp danh chết, thì người thừa kế chỉ có thể thế chỗ để trở thành thành viên hợp danh nếu được ít nhất ¾ số thành hợp danh còn lại đồng ý. Nếu người để lại di sản thừa kế có nhiều đồng thừa kế, thì đây quả thực là một rắc rối rất lớn.
– Do là mô hình công ty có rất nhiều người đại diện theo pháp luật cho doanh nghiệp, cùng với đó là tính chất chịu trách nhiệm vô hạn định của tất cả các thành viên hợp danh. Nên, hành vi của một thành viên hợp danh có thể xác lập nghĩa vụ cho công ty và nghĩa vụ cho tất cả các thành viên hợp danh trong công ty; nếu công ty không may làm ăn thua lỗ, hành vi của một thành viên hợp danh đó có thể dẫn tới trách nhiệm trả nợ vô hạn định và liên đới của tất cả các thành viên hợp danh khác.
– Các thành viên hợp danh đều là các đồng sở hữu trong công ty và họ có quyền quyết định ngang nhau trong quá trình quản lý, điều hành công ty mà không tính đến phần vốn góp vào công ty nhiều hay ít.
– Đối với các thành viên góp vốn, tuy được quyền tham gia họp, thảo luận và biểu quyết tại phiên họp Hội đồng thành viên. Nhưng, những lá phiếu của họ gần như chỉ là vật tượng trưng cho tư cách là thành viên của công ty, mà không có bất kỳ giá trị nào ảnh hưởng đến nội dung của cuộc họp, khi mà biên bản họp hội đồng thành viên được thông qua khi có hai phần ba số phiếu của thành viên hợp danh hoặc quá ba phần tư số phiếu của thành viên hợp danh chấp thuận tuỳ thuộc vào nội dung cần phải thông qua. Do đó, rủi ro với số vốn đã góp của thành viên góp vốn quả thực là rất lớn.
– Sau khi chấm dứt tư cách thành viên, nếu tên của thành viên bị chấm dứt đã được sử dụng làm thành một phần hoặc toàn bộ tên công ty thì người đó hoặc người thừa kế, người đại diện theo pháp luật của họ có quyền yêu cầu công ty chấm dứt việc sử dụng tên đó. Như vậy, trong trường hợp này công ty hợp danh sẽ phải tiến hành đổi tên doanh nghiệp.
Có thể bạn quan tâm: Quy định về việc góp vốn và thực hiện góp vốn vào Công ty Hợp danh
Mọi thông tin thắc mắc cần trao đổi liên quan đến các vấn đề trên xin Quý khách hàng vui lòng liên lạc với Luật Toàn Long ( Mr Long: 0934 682 133 ), để được hướng dẫn chi tiết hoặc liên hệ qua trang liên hệ của chúng tôi.

Bình luận trên Facebook